Mùa xuân nói chuyện thư pháp Việt

By Lời Nhân Gian


In Email
nghia1.jpgNhững năm gần đây thư pháp nói chung và thư pháp chữ Việt nói riêng đang có sự chuyển mình và phát triển mạnh mẽ ở khắp các tỉnh thành trong cả nước.
Đó là điều đáng mừng không chỉ với những nhà thư pháp những người yêu thích phân môn nghệ thuật này mà còn là cơ sở chính xác để ghi nhận thư pháp đã và đang trở thành một món ăn tinh thần bổ ích khơi gợi được cái đẹp nội tâm của mỗi con người.
Nhìn nhận một cách khách quan và khoa học về một loại hình nghệ thuật là một việc khó nó càng trở nên khó khăn và bế tắc với những phân môn nghệ thuật mới mẻ hoặc bị chìm trong sự quên lãng vừa được khơi dậy như một làn sóng. Đối với thư pháp và thư pháp chữ Việt không thể tránh khỏi những bất đồng về quan điểm về cách tiếp cận. Vì vậy trong khuôn khổ có hạn người viết chỉ xin đề cập về thư pháp và thư pháp chữ Việt dưới cái nhìn văn hóa cụ thể xin nói đến vấn đề nhân cách và tư cách của cả người thủ bút lẫn người thưởng thức.

* Nhân cách và tư cách của người thủ bút


Người xưa hay nói đừng để nhân cách của mình thấp hơn mình. Đó là điều bất kỳ ai cũng phải khắc nhớ để rèn tâm luyện tính. Nhân cách của một người phản ánh sâu sắc cái bên trong. Vì vậy chỉ cần nhận biết và nhìn vào nhân cách của một ai đó ta có thể hiểu được phần nào về con người của họ.

Với người viết thư pháp càng phải coi trọng vấn đề nhân cách và tư cách trong giao tiếp và ứng xử. Không thể chấp nhận một người kém hiểu biết về văn hóa ứng xử mà vung tay thảo những câu chữ của thánh hiền được. Vì những chữ ấy chỉ là những chữ mang hình hài đạo đức giả mà thôi. Bởi vậy câu thành ngữ tiên học lễ hậu học văn của người xưa vẫn luôn luôn đúng và luôn là khẩu hiệu tu tâm đối với tất cả mọi người.

Không thiếu trường hợp do kém hiểu biết về văn hóa ứng xử gây ra những chuyện dở khóc dở cười. Một nhà thư pháp khá nổi tiếng viết sai lỗi chính tả còn lên giọng trịch thượng chửi khách hàng của mình là vô học. Hay trường hợp khác viết những chữ mà chính người viết cũng không hiểu nghĩa của chữ mình viết ra thành thử khi phải giải thích thì câu chuyện trở nên ngô nghê và buồn cười v.v... Các lỗi rất cơ bản đó sẽ dẫn đến cái nhìn không đẹp của những người thưởng lãm và chân thành xin chữ.

Người viết chữ thánh hiền vừa là người tái hiện sự sâu sắc nghĩa chữ thông qua cái Tâm cái Tài vừa thể hiện cái Tầm của mình trong sự lĩnh nhận và chia sẻ tri thức. Sự cẩu thả trong hình thức hay nội dung bức tranh chữ là điều không được phép. Nghệ thuật nói chung đòi hỏi sự nghiêm túc đến khắc nghiệt. Vì vậy nhận thức được vấn đề vừa nói chính là điều kiện cần của người cầm bút.

Nói tóm lại trình độ học thức và tư cách đạo đức của một người viết thư pháp là rất quan trọng. Người viết thư pháp là người đang lao động nghệ thuật cống hiến cái đẹp cho đời. Phải trân quý mình trước bằng cách tu thân cho đẹp về nhân cách đạo đức rồi hãy nói đến cái đẹp trong sản phẩm lao động nghệ thuật. Như vậy mới xứng đáng với chính tác phẩm của mình và xứng đáng với sự mong muốn thưởng thức của người đam mê thư pháp.

Nét đẹp văn hóa truyền thống sẽ và chỉ được phát huy khi những người đang làm công tác tôn vinh gìn giữ và phát huy nó có cái nhìn đúng đắn. Sự sai lệch thiếu nghiêm túc dù là rất nhỏ cũng dẫn đến những hậu quả không kể hết. Trước tiên là có tội với tiền nhân có tội với cộng đồng sau là có tội với thế hệ mai hậu. Mong rằng những người viết thư pháp hiện nay nhất là lớp trẻ hãy xem vấn đề nhân cách và tư cách là vấn đề tiên quyết trước khi nghĩ đến cái danh cái lợi có thể có nhờ vào việc mình đang làm.

* ... và của người thưởng thức

Nhu cầu của người dân hiện nay không còn là chuyện cơm no áo ấm như trước nữa mà là tiến tới ăn ngon mặc đẹp. Cuộc sống no đủ không làm cho họ quên đi những giá trị văn hóa truyền thống ngược lại càng làm cho họ có những hoài vọng và mong muốn tái hiện những nét đẹp văn hóa dân tộc. Đó là điều tất yếu tuy nhiên trong nhu cầu của việc ăn ngon mặc đẹp đôi khi làm cho những thượng đế có suy nghĩ có tiền mua tiên cũng được. Nếu như tiền vàng có thể đánh đổi được khả năng cống hiến về nghệ thuật bất kỳ lúc nào thì sẽ không cần phải có nghệ thuật để làm gì! Vì vậy cũng nên trao đổi về cái gọi là nhân cách và tư cách của người thưởng thức nghệ thuật cụ thể là những người trực tiếp tham gia vào việc thưởng lãm.

Trong sử sách còn ghi lại rất nhiều câu chuyện về việc xin chữ khiến người đọc không khỏi cảm động và quý trọng cả người cho lẫn người xin. Tác phẩm văn chương Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân tả cảnh Huấn Cao cho chữ trong ngục tối làm người đọc mãi suy tư và ngậm ngùi khôn xiết. Ấy là cái đẹp trong việc tôn vinh nhân cách tư cách của người có chữ để cho. Và cũng là cái đẹp toát ra từ người xin chữ biết trân trọng giá trị câu chữ mình xin.

Trong hoàn cảnh hiện nay chữ nghĩa được bày bán khắp các quầy sách dọc ngang trên hè phố... phần nào đã làm mất đi cái  không gian thiêng liêng khiến cái hồn của chữ thiếu phần bay bổng. Người bán ra giá người mua kì kèo miễn sao có được sự thỏa thuận cuối cùng. Nhưng tất cả chưa phải là chuyện đáng để chúng ta suy tư. Điều hết thảy những ai quan tâm đến chữ đến thư pháp cũng thấy buồn là chuẩn mực mỹ học trong thư pháp chưa có. Quan niệm trái ngược nhau về những lỗi thuộc về hình thức như khái niệm Thư pháp chữ Việt đã làm nên mấy cuộc tranh cãi lớn nhỏ trong giới cũng như ngoài giới. Ở đây xin không lạm bàn về điều vừa nói chỉ xin nhấn mạnh rằng người thưởng thức cứ việc phê bình nhưng hãy phê bình đúng và cân nhắc lời lẽ để tránh dẫn đến tình trạng thóa mạ.

Bất kỳ người nào làm nghệ thuật nào cũng mong có được sự phản hồi từ phía người thưởng thức. Sự phản hồi đó làm cho nghệ thuật được thăng hoa hay dội nước lạnh vào hứng cảm mới le lói phụ thuộc vào bản lĩnh nghề nghiệp người cầm bút và thái độ người thưởng thức. Riêng với phân môn nghệ thuật thư pháp và thư pháp chữ Việt còn rất nhiều những vấn đề cần phải được các nhà nghiên cứu các nhà chuyên môn và tất cả những người quan tâm đóng góp ý kiến bổ khuyết hạn chế.

    Trịnh Tuấn
  Nguồn: http://www.thuphapchuviet.com/content/view/279/

More...

Thư pháp Online - Đâu là điểm dừng cho giá trị?

By Lời Nhân Gian


Phiếm luận của Trịnh Tuấn

Những năm gần đây cùng với đà phát triển rầm rộ của công nghệ internet các lĩnh vực văn hóa văn nghệ nói chung đều đã tạo nên cho mình một "sân chơi @" với đủ sắc màu của các kiểu xiêm y thích hợp với từng lĩnh vực ngành ngề. Lĩnh vực nào cũng có những website riêng từ tổ chức cho đến cá nhân cũng đều đua nhau lập web tạo ra một xã hội số hóa đến kinh ngạc. Dĩ nhiên dù chỉ là một phân môn nhưng nghệ thuật thư pháp ở Việt Nam cũng không nằm ngoài cái vòng xoáy công nghệ mạng này.

Tính đến trung tuần tháng tám năm 2007 cả nước có đến hàng chục website về thư pháp thư họa của các CLB hoặc nhóm cá nhân có cùng đam mê lập ra. Trong đó những forum có lượng thành viên đáng kể cả trong và ngoài nước tham gia như mạng Thư Họa Việt Nam mạng Thư Pháp Chữ Việt mạng Hồn Chữ Việt v.v...đã tạo được tiếng nói thân thiết trong một sân chơi bổ ích đối với cộng đồng những người yêu thích thư pháp Việt toàn cầu. Đó là những điều nhìn thấy tuy nhiên trong bài viết này người viết chỉ xin đề cập đến một vấn đề nho nhỏ đó là: Thư pháp online - Đâu là điểm dừng cho giá trị?

Từ: "Qua đường không ai hay"...


Khi đọc lại những vần thơ trong bài Ông Đồ của Vũ Đình Liên thật không kể hết những ngậm ngùi. Cứ như bài thơ là một dấu chấm hết cho "thời đại những ông đồ" sống bằng nghề cho và bán chữ.  Xã hội đã quẳng họ ra vỉa hè rồi lại khiêng họ đặt lên những trang văn nhìn thấy cứ như chữ nghĩa bị lộn sòng trầy xước ngẫm mà xót xa hơn xát muối. Cuộc sống của các Ông Đồ ấy bì bõm vật lộn với cơn khát cơm thừa chữ như một nhà thơ nọ đã viết: Tiền thiếu quanh năm nghèo kiết xác/ Sách thừa mấy đống đọc nhoài hơi. Thế nhưng lạ lùng thay mà cũng tự hào thay cái sĩ khí của người có chữ cái cốt cách của bậc Nho gia cái tinh anh của tâm hồn Việt cứ như những cây tre ghì chúi xuống hôn lên đầu cây sậy mỗi khi gió giật nhưng lại thẳng vút hiên ngang khi trời quang mây tạnh. Và họ âm thầm "giữ lửa" như nhưng vị tù trưởng của những bộ lạc sắp bị tuyệt chủng giữ vật báu gia truyền mong đợi sự tái sinh cốt cách của thế hệ kế nhiệm để trao lại. Đó là công đức tiền nhân mà cũng là cái phúc lớn lao của hậu thế hôm nay thừa hưởng.

Đến: Cơn vật vờ chữ nghĩa...

Người viết bài này còn nhớ như in trong đầu hình ảnh của những năm 1999 - 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh những "ông đồ nay" ôm cả dép lẫn chữ chạy thục mạng mỗi khi Tết đến. Người biết chữ Hán thì viết chữ Hán viết không được thì vẽ vẽ chưa đúng thì tra Từ điển. Người không viết được chữ Hán thì vẽ chữ Quốc ngữ vẽ không xong thì tô đi tô lại rồi cũng xong. Miễn sao "bán được giấy viết thư pháp" còn chữ thì...tặng. Bản thân tôi cũng đã từng "gắn bó" với nhà sách Nguyễn Văn Cừ (Quận 1) gần 2 năm làm cái "bán giấy - tặng chữ" như vừa nói. Những câu chuyện dở khóc dở cười xảy ra thường xuyên như cơm bữa. Nếu không là chuyện với người xin chữ thì là chuyện với người thanh toán tiền bán giấy. Cái chợ chữ nghĩa rẻ ngang hàng chợ ve chai người viết chữ thì sạch sẽ hơn người đi lượm rác nhưng chưa chắc bụng đã no hơn. Cả thành phố Hồ Chí Minh khi đó có được vài CLB thư pháp những hội viên có tuổi thường là đã có nghề nghiệp ổn định nói một cách khác họ chơi thư pháp như một thú chơi đúng nghĩa còn anh em sinh viên tụi tôi chơi thư pháp đồng nghĩa với cả mưu sinh nữa. Cũng may là chưa nỡ lấy "tiền chữ" của ai chưa lấy "học phí" của học viên bao giờ. Chứ nếu không bây giờ tai nghe đầy chuyện xì xồ. Như anh bạn tôi chả biết vơ đâu được ít ghi chép làm được hẳn một cuốn luận văn về Thư pháp rồi được in thành sách. Đọc thấy cũng giông giống như sách Tàu viết về thư pháp thế mà có người độc miệng bảo là lí luận quái gì thứ ấy. Thôi thì không ghi nhận cái sự sáng tạo cũng nên ghi nhận cái công sức sưu tầm. Nói thế nghe cứ như thạc sĩ bây giờ toàn đi chép tư liệu về xào nấu làm luận hết hết ấy. Tôi không tin! Mà có tin cũng chả biết tin cái gì!

Và những người cõng chữ lên mạng...

Xưa sách nọ sách kia trích dẫn nhiều chuyện lí thú về việc học tập và thực hành thư pháp. Còn sót lại hôm nay những mẫu chuyện nghe mà cứ ngỡ như cổ tích nhưng không thể không suy ngẫm. Ví như chuyện Liễu Công Quyền quyết chí luyện thư phá bái một người liệt cả hai tay làm sư phụ cuối cùng trở thành một trong những thư pháp gia lưu danh sử sách Trung Hoa; hay như Vương Hi Chi dạy con là Vương Hiến Chi bí quyết luyện thư pháp bằng câu nói: "Bí quyết viết chữ nằm cả trong 18 cái chum này con chỉ cần đem nước trong đó viết cho bằng hết con khắc tìm được lời giải". Vương Hiến Chi chợt hiểu ra điều bố muốn nói biết rằng không có con đường ngắn để luyện thư pháp chỉ có một chữ Cần mà thôi. Cổ thư trích sự với bao nhiêu lời văn dồn cả vào những dặn dò hậu thế cũng mong là cái hình cái tiếng của muôn xưa còn vọng tới muôn xa.

Nói lòng vòng mãi cũng là muốn dẫn đến chuyện thư pháp bây giờ nhất là thư pháp online trên mạng internet. Người viết có bỏ khá nhiều thời gian để lần theo các đường link với những từ khóa của Ta lẫn Tàu và cả Tây nữa như: Thư pháp Thư họa Calligraphy 書法 (shu fa) Thư đạo (sho do) Thư pháp Ả Rập kiểu viết gothic Kiểu Diwani v.v...Mất khoảng nửa tháng thì đọc lướt và xem qua được khoảng 70 đường link tiêu biểu. Thế nhưng đa phần là dẫn đến những tác phẩm đã được scan và chỉnh sửa để phù hợp với rất nhiều lí do ví dụ như: Cho phù hợp với Template của website đó cho bắt mắt cho dễ truy cập...Thật ít những đường link dẫn đến những nội dung mang ý nghĩa học thuật nếu có thì theo được một hai topic trong forum là đã thấy cãi cọ tơi bời như ngoài chợ đầu mối buổi tan tầm. Người viết cũng đã cố đi tìm những nhân vật mà như sách vở xưa dạy lại là: Nom nhân cách của họ phải cao hơn họ hay chí ít thì phong thái phải xứng tầm với chữ của họ nhưng cứ như là mình vô duyên vậy chưa hề được gặp nhất là trên những forum thì thật hiếm những mẫu người như thế!

Quay lại chuyện đi tìm giá trị vậy giá trị của những tác phẩm thư pháp online đó ở đâu? Có ý kiến cho rằng trong thời buổi "nhập nhằng về thư pháp" này trước tiên là quảng bá cho công chúng biết về loại hình nghệ thuật này trước đã sau mới đi sâu vào chất lượng. Nghe cũng có lý. Lại có ý kiến cho rằng không thể thiếu việc đưa vào cộng đồng mạng những tin tức liên quan đến những phong trào thư pháp trong và ngoài nước vì nếu thiếu sẽ mất đi một lượng công chúng trí thức quan tâm đáng kể. Cũng có lý. Ý kiến khác lại đưa ra hẳn một ví dụ rằng có người đã từng rất ấn tượng về những tác phẩm thư pháp trên mạng tìm gặp bằng được người viết ra nó nhưng đến khi nhìn anh ta viết thì...ông khách lắc đầu và bỏ đi. Vì "thư pháp gia" kia cứ đồ đi đồ lại từng nét một. Hóa ra những bức chữ anh ta pots lên mạng là thế và nhờ chút kỹ thuật photoshop hoặc firewoork tác phẩm của anh ta đã như chị hoa hậu vừa rồi ở Nha Trang đăng quang đội chiếc vương miện mua ở chợ Đồng Xuân.

Xin được tạm khép bài này bằng một câu hỏi mở: Trong mắt các bạn thì Thư pháp Online - đâu là giá trị? Người viết bài này thật không đủ trình độ và công sức để tìm ra được câu trả lời xứng đáng và cũng cảm thấy xấu hổ khi viết bài này. Mong được sẻ chia và lượng thứ.

More...

NHẬN DIỆN NHỮNG LÝ DO THƯ PHÁP CHỮ VIỆT BỊ CHÊ BAI.

By Lời Nhân Gian


Từ khá nhiều năm nay vấn đề về Thư pháp chữ Việt trở nên ngày càng “nóng hổi” cả về mặt thành tựu lẫn những dư luận hai chiều. Gần đây trên một số tờ báo điện tử và báo giấy đăng tải nhiều ý kiến phản bác cái gọi là “Thư pháp chữ Việt” tuy nhiên nhìn chung các tác giả của những bài viết ấy vẫn chỉ nói được cái chung chung có bài còn rơi vào tình trạng phát ngôn cảm tính thiếu cơ sở khoa học nên đã dẫn đến những nhận định quy chụp áp đặt và lên án thiếu khách quan. Người viết xin được mạo muội nhận diện những lý do khiến cho thư pháp chữ Việt bị chê bai như một phần bổ khuyết cho những ý kiến chê bai không có cơ sở và cũng là góp phần “động viên” mình cùng những người đang theo đuổi phân môn này trong việc cố gắng hoàn lấp những lỗ hổng cần thiết trên con đường xây dựng lý thuyết cho Thư pháp chữ Việt.


1.    Từ những yếu kém về công phu tập luyện.


Nếu xem thư pháp như một thú chơi thì có lẽ đây là một trong những thú chơi công phu bậc nhất tốn nhiều thời gian tâm huyết và sức lực cũng như tiền bạc mới có thể thu lượm được đôi ba thành tựu mỏng manh. Từ di sản Thư pháp Trung Hoa chúng ta tìm hiểu được khá nhiều câu chuyện về việc luyện tập thư pháp với những sự dụng công kinh khủng. “Các đại thư gia trước khi thành danh đã luyện tập viết mấy chục năm. Công phu Lâm trì (Thuật ngữ ám chỉ khổ luyện thư pháp) của các đại thư gia được thế nhân tương truyền nhiều vô kể”.(1). Lịch sử Thư pháp Trung Hoa truyền lại đến hôm nay hàng trăm tấm gương luyện bút như Chung Diêu Trương Chi Vệ Phu Nhân Vương Hi Chi Vương Hiến Chi Thích Trí Vĩnh Lý Thế Dân Hoài Tố Trương Húc v.v… Họ là những người dám hi sinh về thời gian cả một quãng đời dành cho luyện bút bút cùn quẳng lại thành gò rửa bút nước ao thành mực. Như Vương Hi Chi mất mười lăm năm chỉ để luyện một chữ Vĩnh (“dụng tâm thập ngũ niên thủy công nhất vĩnh tự”) lại như Thích Trí Vĩnh cháu 7 đời của Vương Hi chi lên lầu chùa rồi không xuống ở đó 40 năm luyện thư pháp (“đăng lâu bất hạ tứ thập niên”)…Như vậy đủ thấy có được một bút lực chưa nói đến sở học các nhà thư học đã tốn biết bao công phu khổ ải. Thế mà trong các lạc khoản phần hạ khoản luôn luôn dùng những khiêm từ như: Huệ tồn lưu tồn huệ niệm thanh thưởng…đại khái nói khiêm tốn rằng: Xin nhờ ngài xem và sửa giúp cho tôi những chỗ còn vụng. (Sđd như .1.).


Lấy cái gốc ấy mà ví như một cái gương soi thì những người cầm bút lông chấm mực tàu viết chữ Việt có ai làm được một phần như thế? Ngoảnh nhìn lại tiến trình hình thành và phát triển của phân môn này tiếng là có đủ những gương mặt anh hào như nhà thơ Đông Hồ nhà thơ Trụ Vũ nhà thơ Song Nguyên họa sĩ Chính Văn nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh kiến trúc sư Nguyễn Thanh Sơn họa sĩ Trương Tuấn Hải v.v…nhưng hầu hết các vị ấy đều làm thư pháp và chơi thư pháp…bằng tay trái. Tức là thiếu và chưa có ai đạt đến việc lấy thư pháp làm nghề chuyên nghiệp. Ngay như bên mảng thư pháp chữ Hán ở Việt Nam cộm lên ở miền Bắc có cụ Thanh Hoằng Khê Lê Xuân Hòa cũng chỉ có khoảng hơn mươi năm là ‘chuyên nghiệp thư pháp” còn lại cũng vẫn nghiệp dư. Cộng với một lý do khách quan nữa là thời buổi công nghệ số cuốn con người vào những vòng xoáy của gạo cơm lo tồn tại chưa xong lấy thì giờ đâu luyện tập. Những thành tựu ban đầu của thư pháp Việt là những bức tranh chữ mà ngay như thời ấy các tác giả còn phân vân chưa biết gọi nó là gì cũng đã góp phần làm nên những tư liệu quý của những người theo sau học tập và tham khảo. Tuy nhiên nhìn vào người dễ tính sẽ dễ đồng lòng nhưng người khó tính và có học thuật sẽ tham vấn rằng nó đẹp đấy nhưng làm thế nào được thế? Và cơ sở nào lại cho ra được một bức tranh chữ thế này? Thì lại như là làm khó những người chơi. Đa phần sẽ lại lôi câu chuyện về nhà thơ Đông Hồ tự viết thơ mình bằng bút lông mực tàu ra để trả lời những người khó tính ấy và sâu xa hơn một chút là dẫn luận từ thư pháp Hán với những nét cơ bản được biến thể thành A B C…Những lý do đó không thỏa mãn sự tò mò và sự đòi hỏi cần làm sáng tỏ hơn về mặt lý thuyết của nhiều người khó tính vì họ cho rằng phải có lý thuyết trước thực hành. Đương nhiên là vậy. Nhưng sự khó tính ấy lại có vẻ như quá khắt khe mà quên đi một điều rằng khi con người thuở tiền sử khát nước xuống suối lấy tay vốc nước uống sau đó nghĩ ra cái gì để đựng nước mà sau hàng nghìn năm vạn năm nó trở thành những cái cốc cái li đẹp đẽ. Không lẽ loài người khi đó phải tụm năm tụm bảy lại xây dựng một “lý thuyết về cái cốc” sau đó mới chế tạo cái cốc hay sao? Thư pháp Việt cần và rất cần có những người dụng công tập luyện và sáng tạo cho ra mắt những tác phẩm đặc sắc mang những giá trị riêng bên cạnh sự tác động và thừa hưởng từ các nền di sản thư pháp thế giới mới mong có chỗ đứng độc lập hoặc song song. Mà cái này lại cần phải có thời gian. Giới trẻ ngày nay đã tiếp thu những thành tựu ban đầu từ những người tiên phong ấy mà bước vào con đường tìm hiểu và học tập. Điển hình cũng đã có những gương mặt còn rất trẻ họ thuộc thế hệ 8X 9X có người ở trong nước có người ở nước ngoài nhưng đang cùng nhau xây dựng và bổ khuyết những lỗ hổng từ trong những thành tựu của ông cha họ với một mong muốn rất đáng trân trọng là có được một nền thư pháp Việt sơ khai nhưng đầy đủ những cơ sở lý luận cơ bản. Bởi lẽ nếu họ không tiếp tục tiếp nhận duy trì và phát triển thì đó chính là cái cớ thứ nhất để cho những người đăm đăm chỉ thừa nhận thư pháp Hán chê bai.

2.    Sự nóng vội dẫn đến ngộ nhận của một số người chơi Thư pháp Việt.


Từ cách hiểu về khái niệm Thư pháp chú trọng về ngoại diên mà không đi sâu nghiên cứu về nội hàm của khái niệm này đã dẫn những người mới chơi thư pháp chữ Việt nhầm lẫn về bản chất của thư pháp. Nói đúng hơn họ mơ hồ và vừa chơi vừa làm. Điều này dẫn đến không ít những câu chuyện dở khóc dở cười mà người viết bài này đã từng có bài với tựa đề “Mùa xuân nói chuyện thư pháp Việt” (2) để chỉ ra những cái được và chưa được trong bước đường phát triển phân môn. Lỗi này phần nhiều rơi vào những người trẻ bỏ công tập luyện chưa nhiều lại chưa có được sự nghiên cứu sâu sắc về thư pháp cũng như trang bị cho mình những kiến thức văn hóa tổng hợp dẫn đến có những hành động và phát ngôn ấu trĩ. Phàm làm việc gì kinh nghiệm cổ nhân cũng đã từng khuyên là “dục tốc bất đạt” huống gì một môn nghệ thuật đang còn rất non trẻ chưa có gì ổn định về mặt lý thuyết. Vì thế những sự nóng vội trình làng tác phẩm công bố với công chúng những đứa con tinh thần non nớt không những không có được thành tựu mà còn góp phần làm cho những người phản bác them cớ để chê bai. Hơn thế nữa đó là một sự đáng trách với một số ít bạn trẻ bây giờ tự phong cho mình những danh hiệu rồi dương dương tự đắc với cái danh hiệu ấy như một đẳng cấp hàng mã lại càng có cớ cho những người có tuổi khó tính ghét bỏ. Sự ngộ nhận ấy tạo nên diện mạo những dị hình khó coi ngay trong giới những người yêu thích thư pháp chữ Việt chứ chưa nói đến những người chỉ tôn sùng thư pháp Hán. Người viết bài này còn nhớ một câu tiểu đối trong sách xưa rằng: “Cứu nhân độ thế/ Khuyến thiện trừ dâm” (3) thôi thì nếu chẳng được như Thư đạo của Nhật để nâng tầm giá trị thư pháp lên thành Đạo cũng hãy cố gắng để xem việc học tập thư pháp Việt dày công khổ luyện nó nghiên cứu chuyên tu hệ thống kiến thức tổng hợp mong khuyến thiện trừ dâm cho chính cá thể tiếp nhận nó đã là một cái gì đó kì tích lắm rồi. Cứ nóng vội cứ cho ra đời những tác phẩm cụt què cứ phát ngôn bừa bãi lại càng sinh cớ cho những người phê phán nó chê bai.

3.    Không thống nhất về những lý thuyết thư pháp Việt đang còn  manh mún và thực hành mạnh ai nấy làm.


Nói như một số người ngoa ngôn cho rằng thư pháp chữ Việt chẳng có gì gọi là lý luận cơ bản thì có vẻ như đó là câu nói của những người ít chịu tìm hiểu hoặc chưa tìm hiểu thấu đáo. Người viết xin khẳng định: Thư pháp chữ Việt có trang bị và tiếp tục bồi khuyết hệ thống lý luận cơ bản cho nó!(4). Tuy nhiên nếu gom tất cả những cuốn sách đã từng xuất bản có liên quan đến thư pháp chữ Việt và ghi chép những ý kiến của những vị tiền bối cũng như những người đang tiếp tục tiếp nhận và duy trì phân môn này lại ta cũng chỉ thấy được những lý luận lẻ tẻ manh mún và chưa có sự thống nhất. Từ những cuốn như “Chữ Tâm trong Thư pháp” của Nguyễn Thụy Đăng Lan “Sổ tay thư pháp” của Thanh Sơn “Thư pháp là gì?” của Nguyễn Hiếu Tín “Tâm bút” của Lưu Thanh Hải “Thư pháp chữ Việt” của Nhất Chi Lan “Hồn chữ Việt” của Đăng Học v.v…đều cho thấy cái sự manh mún và không thống nhất. Mỗi người viết sách đều cố gắng để tự đưa ra cho mình một ý kiến một định nghĩa một cách thức một lý giải …và ít tai thừa nhận nhau về mặt khoa học. Đó là hạn chế lớn nhất mà có đọc tất cả những cuốn kể trên mới thấy hết được sự không ăn khớp. Thư pháp Trung Hoa tồn tại và phát triển nhờ vào chính cái hệ thống lý luận đã được thống nhất bài bản ổn định và những bồi đắp thịt da cho hệ thống ấy từng thời kỳ lịch sử. Chính điều đó làm nên cái sức mạnh xuyên thủng của thư pháp Hán cả về không gian lẫn thời gian để đi đến hôm nay. Các sách viết về thư pháp chữ Việt còn mắc khá nhiều khuyết điểm trong việc lựa chọn tư liệu tham khảo dẫn đến việc trích dẫn tùm lum nhưng không nói lên được đúng bản chất của vấn đề. Có sách còn mắc lỗi morat rất nhiều như cuốn “Tâm Bút” của Thanh Hải. Tất cả những điều vừa nói mới chỉ là “cái hình” còn “cái chất” của từng cuốn thì còn đang rất mông lung. Các tác giả chưa đi vào xây dựng cho thư pháp chữ Việt một bộ xương mà ở đó bộ xương ấy cấu thành bởi những chất mang sắc vị đường nét của Việt Nam. Chưa thoát ly khỏi những thuộc tính của khái niệm thư pháp Trung Hoa mà xây dựng cho thư pháp chữ Việt những nét riêng biệt đơn nhất cho dù cái chung vẫn là phải kế thừa và tiếp thư từ di sản thư pháp Hán. Tức là khi đọc cái gọi là “Cơ sở lý luận thư pháp chữ Việt” người đọc sẽ nhận ra đâu là cái của Việt Nam bên cạnh cái của Trung Hoa. Nếu như những nhà xây dựng lý luận không cố gắng thể nghiệm tìm kiếm nhào nặn chắt lọc…để hun đúc một cái đơn nhất trong cái chung kia thì vẫn chẳng ai thừa nhận cho dù sách in ra dày/nặng cỡ nào. Có chăng cũng chỉ được ve vuốt bởi những người ưu ái thân quen còn công chúng có trình độ sẽ lắc đầu bởi sự ‘chung chạ” một cách không khéo léo vì cóp nhặt bừa bãi. Nên chăng đã đến lúc những người tâm huyết với phân môn này đã từng bỏ ra nhiều ít thời gian nghiên cứu và xây dựng ngồi lại với nhau làm nên cái sự “thống nhất” quy những manh mún về một mối gạn cái chưa được bồi them cái hay cái mới mà hình thành một cái chung đúng nghĩa. Người viết tin rằng nếu được thế thì đó là một sự lớn mạnh thực sự về học thuật của thư pháp chữ Việt cũng là bức tường thành vững chãi trước những đòn tấn công mạnh mẽ của những người ôm trong tay lịch sử của đất nước phát minh ra thuốc súng.


4.    Loạn về “chương pháp” và những cách tân xây mà không giữ.


Theo thư pháp Hán chương pháp cũng gọi là phân gian bố bạch hoặc bố cục tức là nghiên cứu phương pháp phân bố chữ với chữ hàng với hàng và các hàng với toàn bộ bức thư pháp. (5). Trải qua hàng nghìn năm chương pháp của thư pháp Trung Hoa dần được hoàn thiện và tiến đến sự xê dịch những thuộc tính của nó nhờ vào những sự sáng tạo thông qua các trào lưu và khuynh hướng thư pháp hiện đại.(6). Tuy nhiên dù sự xê dịch đó có như thế nào thì vẫn là sự xê dịch tịnh tiến theo hình thức di chuyển véc-tơ tức trên một mặt phẳng. Có những cố gắng làm cho nó không còn là nó mà thành một hình thức mới hoàn toàn độc lập phá bỏ tính xem-hiểu tiến đến tính xem-cảm.(7). Như vậy xét về mặt cấu trúc nó vẫn luôn có tính ổn định rất cao và về mặt khái niệm nó vẫn luôn chứa đựng tính chất bắt buộc đối với sự áp dụng trên bất kỳ hệ thống ký tự nào. Vì vậy khi những người chơi thư pháp chữ Việt đã không dịch hai chữ “chương pháp” kia ra tiếng Việt ví như mượn một thuộc tính chính của khái niệm “chương pháp” là “bố cục” để xây dựng cái gọi là “bố cục bức thư pháp chữ Việt” mà vẫn giữ nguyên khái niệm nhưng lại không tuân thủ nó. Hệ quả là sản sinh ra những hình thức biểu đạt lung tung nhấn nhá vô tội vạ hàng lối bất quy tắc. Đó là cái lý để người ta nói rằng thư pháp chữ Việt làm hỏng giá trị những nội dung mà nó thể hiện. Ví dụ như một câu thơ lục bát bị một người chơi thư pháp chữ Việt chưa cứng tay sẽ bổ dọc bổ ngang câu thơ ấy ra làm nhiều đoạn rồi lấy một chữ nào đó làm “đại tự” để làm điểm nhấn mà không hiểu được cái hay cái tinh túy của câu thơ ấy nằm ở đâu. Thế thì hỏng rồi. Không chê sao được. Người viết cũng tham khảo nhiều bức thư pháp chữ Việt của các vị tiền bối cũng như tiếp thu những sáng tạo của Trương Tuấn Hải Đăng Học v.v…và quả thực rất lấy làm vui mừng vì nhận thấy đó là một sự sáng tạo đáng ghi nhận. Tuy nhiên các vị ấy “xây” lên được một chút móng nhưng lại không “giữ” được trước sức công phá của sự đòi hỏi cách tân. Thành ra lại rơi vào những bố cục rối ren không quy ước thích sao làm vậy. Trên “thị trường” lại càng xuất hiện nhiều những “tác phẩm” trời ơi đất hỡi nhìn vào không phân biệt được đâu là ‘cái tác giả muốn nói” chỉ thấy chàng màng một mớ hỗn loạn về những ký tự rời rạc ngoằn ngoèo. Đó là cái cớ để người ta bảo rằng thư pháp chữ Việt làm hỏng chữ Quốc ngữ là xui con người ta viết xấu viết bậy có vị còn ngoa ngoắt nói là “Thư pháp chữ Việt làm bẩn chữ quốc ngữ” nữa.

Tạm kết: Sự ra đời và phát triển của bất cứ một loại hình nào cũng đều đứng trước những khó khăn về mặt xây dựng cơ sở khoa học sự thống nhất và tinh thần gắn bó cùng phát triển loại hình ấy. Thư pháp chữ Việt với may mắn được ra đời như một sự tất yếu của xã hội hiện đại lại được sự hỗ trợ đắc lực từ di sản thư pháp Trung Hoa và thế giới. Thế nhưng trên bước đường phát triển còn có những lỗ hổng nghiêm trọng như đã nói ở trên cần được san lấp. Bởi đó chính là cái cớ cho những người phản bác vin vào đó mà chê bai. Tuy nhiên cũng như câu biết sai thì sửa sửa được sẽ khá lên. Những người yêu thích và dành tâm huyết cho phân môn này kiên tâm cùng nhau mỗi người một chút công sức tin rằng những lỗ hỗng ấy sẽ sớm được lấp đầy trong sự cầu tiến. Người viết xin dừng tại đây và lại xin được ru mình: Cuộc đi ngàn dặm khởi từ gót chân…


Trịnh Tuấn

(4 giờ sáng ngày 20/10/2007. )

-------------
Chú thích:
(1): Tự điển thư pháp NXB Văn Nghệ 2006.
(2): Trịnh Tuấn Mùa xuân nói chuyện thư pháp Việt Báo Bình Định Online.
(3): Dương Quảng Hàm Văn-Học Việt-Nam Bộ quốc-Gia Giáo-Dục 1961
(4): Lời của Trịnh Tuấn.
(5): Tự điển thư pháp NXB Văn Nghệ 2006.
(6). Nguyễn Bá Hoàn Thư pháp & Thiền NXB Thuận Hóa 2002.
(7). Lê Quốc Việt trả lời báo chí triển lãm “Chữ” tại 78 Mã Mây Hà Nội.

Tư liệu tham khảo:
1.    Lê. Nguyễn Hiến Khổng Tử NXB Văn Hóa - Thông Tin 2001
2.    Ba. Nguyễn Văn Hán Văn Tự Học NXB Đồng Tháp 1995
3.    Phê. Hoàng Từ Điển Chính Tả Tiếng Việt NXB Giáo Dục 1988
4.    Giang. Nguyễn Thạch Điển Nghĩa Văn Học Tập Giải NXB Văn Học 2002
5.    Lựu. Phương Lý Luận Văn Học NXB Giáo Dục 2004
6.    Toàn. Nguyễn Khánh Từ Điển Tiếng Việt Phổ Thông A-C NXB Khoa học Xã Hội 1975
7.    Nguyên. Lỗ HU ZHIMINH HANWEN SHICHAO ZHUSHI SHUFA 2004.3
8.    Quân. Phạm Hoàng Thư Pháp Chữ Hán – Lý Thuyết & Thực Hành NXB Mũi Cà Mau 2004
9.    Viễn. Lê Trí Quy Luật Phát Triển Lịch Sử Văn Học Việt Nam NXB Giáo Dục 1998
10.    Bích. Nguyễn Ngọc Từ Điển Tiếng Việt NXB Từ điển Bách Khoa 2005
11.    Hán. Lê Bá Sử. Trần Đình Phi. Nguyễn Khắc TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ VĂN HỌC NXB Giáo dục 2007
12.    Hàm. Dương Quảng Văn-Học Việt-Nam Bộ quốc-Gia Giáo-Dục 1961
13.    Hoàn. Nguyễn Bá Thư pháp & Thiền NXB Thuận Hóa 2002.
14.    Quang. Nguyễn Tử Điển Hay Tích Lạ NXB Trẻ 2003
15.    Chinh. Hoàng Xuân Các Nền Văn Hóa Cổ Việt Nam NXB Lao Động 2005.

Nguồn: http://www.thuphapchuviet.com/content/view/346/59/

More...

MÔI GIỚI NGÔN NGỮ HAY PHÊ BÌNH VĂN HÓA?

By Lời Nhân Gian



In Email
Trịnh Tuấn
 
Xin được trao đổi với tác giả bài báo "Mạo danh thư pháp để làm "bẩn" chữ Quốc ngữ? " và Ngài Giáo sư Trần Trí Dõi (Ở nước ngoài tôi thấy người ta gọi tầm cỡ Giáo sư bằng "Ngài" nên cũng gọi thế cho phải phép). Trước hết tôi với tư cách một độc giả đọc và suy ngẫm về cái gọi là "Không được mạo danh thư pháp để làm bẩn chữ Quốc ngữ!" thấy rằng: Ở đây đúng là đang làm BẨN chữ Quốc ngữ thật! Xin được mạo muội chứng minh động cơ lẫn hành động "làm bẩn chữ Quốc ngữ" của tác giả bài báo và Ngài giáo sư Trần Trí Dõi:

 
1. Ngay trong cái sapo của bài báo có viết "Ngoài chữ Quốc ngữ chữ Hán và chữ Nôm thư pháp còn được chuyển tải qua tiếng Anh tiếng Đức và chưa biết chừng sẽ có cả thư pháp… chữ Arab cũng nên." Xin thưa rằng có lẽ quá vì sự thanh cao của mình mà tác giả bào báo đã ngây ngô hoặc chả biết gì về điều mình nói. Thư pháp Ả Rập là một khía cạnh của nghệ thuật Hồi giáo đã được phát triển song song với đạo Hồi và ngôn ngữ Ả Rập. Thư pháp Ả Rập/Ba Tư có quan hệ với các trang trí nghệ thuật Hồi giáo trên tường và trần của các nhà thờ Hồi giáo cũng như trên các trang kinh sách. Các nghệ sĩ đương đại của thế giới Hồi giáo đã học hỏi từ các di sản thư pháp để sử dụng trong các tác phẩm của mình. Nếu như dụng công và có chút hiểu biết chắc hẳn tác giả của bài báo sẽ có chút bình tâm và dụng công lên mạng vào Google để tìm kiếm và tìm hiểu hay chịu khó ghé thư viện đọc vài cuốn sách liên quan đến lĩnh vực này chứ không hồ đồ và vô liên sĩ để môi giới ngôn ngữ bằng việc viện dẫn sự hình thành chữ Quốc ngữ. Cái căn cứ khoa học mà tác giả bài báo viện vào là những xác trí tuệ của Alexandre De Rhodes cũng chưa đủ để thuyết phục ai. Nếu như tác giả bài báo thông minh hơn chút nữa viết lại y chang những chi tiết như có trao đổi với tôi hôm ở cà phê Không Lời chắc hẳn anh sẽ không khép tội...cho mình! Bởi lẽ anh cũng chính là tác giả của những bài báo a dua cho phong trào mà anh gọi là "mạo danh" kia. Như thế thì xin hỏi anh Mai Quốc Ấn - sinh viên báo chí - Tác giả bài báo nói trên: Anh có phải là tội nhân môi giới ngôn ngữ lăng mạ chữ mẹ đẻ nhổ toẹt vào di sản ông cha? Hay anh đang mạo danh nhà báo để hạ bệ những người đã từng là bạn anh đã từng được/bị anh đưa lên báo trong một trường cảnh/hoàn cảnh khác? Hay còn một cơ sự bình phong nào khác?
 
2. Anh Mai Quốc Ấn viết: "Với vài kỹ xảo cơ bản của thư pháp Hán một chút khéo tay và sáng tạo cả việc khéo léo PR cho bản thân người ta có thể tự biến mình thành một “thư pháp gia” khả kính trong con mắt nhiều người trong khi nền tảng văn hóa lại chưa đáp ứng được việc lý giải những gì mình viết ra. Nhiều bức chữ được cố ý tạo hình quá đáng thậm chí còn không đọc được phải chăng “thư pháp Việt ngữ” đang góp phần làm… tối nghĩa tiếng Việt bằng cách “bóp méo” chữ viết trong khi chúng ta đang kêu gọi giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.". Nếu tôi không nhầm và không có cái tư duy bất thiện như anh thì tôi còn nhớ và còn lưu khá nhiều bài báo của anh trong tư cách của một "Trung Ngôn" dẫn đạo để PR cho thư pháp chữ Việt. Chẳng hay cơ sự gì hoặc động cơ gì khiến anh quay lưng 180 độ thế? Tôi rất trân trọng anh trong tư cách những người bạn càng trân trọng anh hơn khi anh là một người trẻ đang theo học báo chí - một tầng lớp trí thức phát ngôn cho nhiều giai cấp xã hội Việt Nam thế mà quan điểm chính trị và góc nhìn văn hóa của anh lại "rung rinh" như một chồi non oặt ẹo trước cơn gió nồm nam hây hẩy.
 
3. Mục [3] này xin có đôi lời với Ngài giáo sư Trần Trí Dõi. Thưa Ngài là một Giáo sư Chủ nhiệm Khoa ngôn ngữ học của một trường đại học danh tiếng mà ngài cho rằng: "chỉ cách viết chữ Hán mới có đủ các điều kiện để gọi là “thư pháp” vì đây là chữ tượng hình" thì tôi lấy làm nghi ngờ cái danh vị giáo sư hay giáo...hư của ngài quá! (Mượn cách nói Thư pháp hay thư...ngáp của anh Mai Quốc Ấn). Ngài thừa biết là trong tổng số các chữ Hán chữ tượng hình chỉ khiêm tốn chiếm không đầy 1/3 số lượng còn lại là Chữ Chỉ Sự (指事文字) Chữ Hội Ý (Hội Ý Văn Tự 會意文字) Chữ Hình Thanh (形聲文字) Chữ Chuyển Chú (轉注文字) Chữ Giả Tá (假借文字) thế mà ngài vẫn dùng cách của các những người dùng uy quyền tuổi tác uy vũ danh vị mà phang lên trang viết những câu chữ ngây ngô. Phải chăng ngài đang coi thường người đọc hay là ngài được ai đó lừa phỉnh câu cú trên báo chí? Xin ngày nói rõ để không những độc giả được thỏa mãn mà còn cả hàng trăm học trò của ngài nhiều thế hệ được học dưới lời giảng của ngài.
 
Thưa ngài giáo sư và tác giả bài báo
Tôi chỉ là một bạn đọc và cũng có chút đam mê với Thư pháp chữ Việt nhưng không vì thế mà phải lên tiếng trả lời ngài. Nửa cái bánh mì là bánh mì vẫn là bánh mì nhưng nửa sự thật thì không còn là sự thật. Hi vọng người đọc sẽ không bị những hằn học cá nhân những góc nhìn hạn hẹp những quan điểm quy chụp những luận điệu phán xử mà phải đọc những câu chữ mang tính chiếm đoạt thời gian của họ. Chân thành đội ơn giáo sư và tác giả bài báo kia nếu quý vị làm được như thế.
 
Trịnh Tuấn.

More...

PHÊ BÌNH SỰ PHÊ BÌNH THƯ PHÁP KHÔNG CÓ TÍNH HỌC THUẬT.

By Lời Nhân Gian

Với sự "châm lửa" của anh Mai Quốc Ấn - Người trước giờ giơ cả hai tay vơ ôm lấy thư pháp chữ Việt trong các hoạt động thư pháp ở miền Bắc để viết bài (chi tiết xin dùng từ khóa là "Mai Quốc Ấn" trên Google) nay quay súng chỉa vào đầu mình bằng cách mượn mồm một số người lớn tuổi có chức sắc học hàm học vị để lại chỉ với một mục đích...viết được bài và được đăng. Việc "nhận diện" nhân vật này Thư Pháp Chữ Việt sẽ lần lượt có bài cho quý vị độc giả tham khảo. Nay trên Vnweblogs có một blogger là Ngô Minh viết bài "Ý KIẾN VỀ "THƯ PHÁP CHỮ VIỆT" chúng tôi xin có đôi lời trao đổi bằng bài:



PHÊ BÌNH SỰ PHÊ BÌNH THƯ PHÁP KHÔNG CÓ TÍNH HỌC THUẬT.


 1. Những căn cứ vu vơ.


Từ những căn cứ không có tính thuyết phục về mặt khoa học và kiến thức chuyên ngành đã dẫn tác giả Ngô Minh đến những nhận định ngây ngô và bung ra những lời lẽ thấp hơn trình độ của một người cầm bút chân chính. Trong toàn bộ bài viết của mình Ngô Minh không đưa ra được những cơ sở lý luận để bênh vực cho Thư pháp Hán lại càng không có lý luận nào để căn cứ mà chê bai Thư pháp Việt hầu hết ông đều dùng lối "một tay chèo lái khơi khơi giữa giòng" như kiểu "xỏ dép hai chân" mà anh Mai Quốc Ấn từng dùng để mượn mồm những người khác nói thay cho cái sự "không biết" của mình. Thật hiếm có những dòng chữ của Ngô Minh chứng tỏ đó là chính kiến tuy nhiên người viết cũng cố gạn được một câu của Ngô Minh: "Tôi cho rằng kiểu viết chữ Việt như vậy là phản văn hoá là phản ngôn ngữ.". Xin hỏi thế nào là phản văn hóa? Thế nào là phản ngôn ngữ? Hay tác giả cũng chưa hiểu được văn hóa là gì và ngôn ngữ là gì? Đưa ra một nhận định dù đúng dù sai cũng đều phải bảo vệ được nhận định ấy. Nếu không chẳng khác gì một đứa trẻ tập nói nói xong là xong chả biết mình nói gì.
vw04.gif
                     Thư phápẢ Rập
Trước hết xin được nói về hai chữ "văn hóa" mà tác giả Ngô Minh đã tự phủ nhận thuộc tính của nó trong ông khi ông chưa hiểu mà phát ngôn văng mạng. "Văn hóa là toàn thể những thành tựa của loài người trong sản xuất xã hội và tinh thần". Ở một nghĩa khác nó còn là "sự hiểu biết về sự vật hay cách xử thế tích lũy bằng việc học tập có hệ thống hoặc thấm nhuần đạo đức và các phép tắc lịch sự". (Từ điển tiếng Việt Nguyễn Ngọc Bích và nhóm biên soạn NXB Từ điển Bách Khoa 2005). Đấy là cách hiểu gần đây trong các sách từ điển ấn hành mới nhất. Còn "ngày xưa" như cái thời mà tác giả Ngô Minh đi học ư? Thời đấy hiểu về "văn hóa" như sau: "Văn trong nghĩa văn minh; hóa trong nghĩa giáo hóa. Nền giáo hóa theo cái văn minh mỗi thời đại: văn hóa phúc hào văn hóa mạc-xít. Ngb. Điều hiểu biết kiến thức: trình độ văn hóa cao".( Việt Nam Từ Điển Ban tu thư khai trí Nhà sách Khai trí 62 Lê Lợi Sài Gòn). Và nếu dẫn thêm tôi có thể dẫn cho ông Ngô Minh khoảng gần một nghìn định nghĩa về văn hóa khác nhau tuy nhiên sẽ tuyệt đối không có cái định nghĩa nào nói rằng những hoạt động viết chữ theo lối thư pháp bằng chữ Việt (chữ Quốc ngữ) là phản văn hóa cả. Còn về ngôn ngữ ư? Ông đã hiểu về ngôn ngữ thế nào mà cho rằng thư pháp chữ Việt là phản ngôn ngữ? Ngôn ngữ là công cụ biểu thị ý nghĩ dùng để giao tiếp giữa người và người thực hiện nhờ hệ thống những phương tiện âm thanh từ ngữ và ngữ pháp: Người là giống duy nhất có ngôn ngữ. Cách sử dụng chức năng nói trên thường biểu hiện của phẩm chất đạo đức trình độ văn hóa. (Sdd). Vậy thì thư pháp chữ Việt nó phản ngôn ngữ ở chỗ nào? Ở khía cạnh nào? Tác giả Ngô Minh không những không chỉ được ra cái để chê bai vì không hiểu nó mà con ngây thơ hơn là gán ghép nó với những khái niệm đã có tính bền vững về mặt cấu trúc lẫn quá trình diễn tiến đến sự hoàn thiện của khái niệm. 

2. Sự hiểu biết mù mờ.


Xuất phát từ những hiểu biết mù mờ về khái niệm Thư Pháp đồng thời cũng không hiểu được thư pháp là gì nên Ngô Minh đã có những nhận định táo bạo một cách kinh hoàng như sau: "Thư pháp là nghệ thuật tạo hình chữ. Mỗi người “hoạ sỹ” ấy mang lại cho thư pháp chữ Hán một cách nói mới làm giàu thêm cho chữ Hán. Vì thế chỉ có loại chữ tượng hình như chữ Hán ( chữ Nhật Hàn Quốc chữ Nôm) mới  sản sinh ra nghệ thuật thư pháp. Còn tất cả các loại chữ khác trên thế giới đều không thể thư pháp được.". Người viết bài này thật lấy làm khâm phục Ngô Minh trong việc ông tự quy hoạch vùng miền lãnh thổ và ngôn ngữ cho thư pháp. Có lẽ trong cái khu vực ông tự quy hoạch ấy đã cho ông những kiến thức không ra khỏi nó được nên sự vùng vẫy hòng muốn xa hơn về mặt không gian hiểu biết là khó khăn với ông chăng? Xin cá với ông Ngô Minh rằng ông tuyệt đối sẽ không đưa ra được một dòng dẫn chứng nào về điều ông nói cả. Có chăng ông sẽ lại dẫn lời ông Trần Trí Dõi Ông Nguyễn Như Phong hay của cậu sinh viên thực tập Mai Quốc Ấn là cùng. Mà những phát ngôn của mấy vị ấy nếu ông chịu theo dõi thì ông sẽ biết rằng họ rất xứng đáng với tầm hiểu biết như ông.

ngua_08.jpg
               Thư họa trung Hoa
Thư pháp (書法) là nghệ thuật viết chữ đẹp. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam[1] thư pháp là phép viết chữ của người Trung Hoa và người Ả Rập được nâng lên thành một nghệ thuật. Về gốc Hán Việt thư pháp (書法) có nghĩa là phép viết chữ. Nhưng không đơn giản chỉ với cách hiểu là phép viết chữ sao cho đẹp thư pháp hay thư đạo trong hàm nghĩa sâu xa còn là phương tiện để biểu hiện tâm ý khí lực của người dụng bút. Tại Việt Nam nghệ thuật thư pháp thường theo phong cách thư pháp Trung Hoa dùng bút lông và mực tàu. Như vậy thư pháp không hề có tính độc lập và khu biệt ở một quốc gia trong việc hình thành và phát triển. Không chỉ Trung Hoa mà còn cả người Ả Rập xây dựng và phát triển song hành loại hình nghệ thuật này. Cũng trong Từ điển Bách khoa Việt Nam   nói rằng "thư pháp Ả Rập là một khía cạnh của nghệ thuật Hồi giáo đã được phát triển song song với đạo Hồi và ngôn ngữ Ả Rập. Thư pháp Ả Rập/Ba Tư có quan hệ với các trang trí nghệ thuật Hồi giáo trên tường và trần của các nhà thờ Hồi giáo cũng như trên các trang kinh sách. Các nghệ sĩ đương đại của thế giới Hồi giáo đã học hỏi từ các di sản thư pháp để sử dụng trong các tác phẩm của mình". Trong cách hiểu của hàng triệu người trên thế giới và chí ít hàng tỷ người Trung Quốc và Á đông thì Thư pháp là phép viết chữ. (Thư: dùng nghĩa động từ là Viết Pháp là Phép). Vậy thì bất cứ một quốc gia nào có một hệ thống chữ viết sẽ có Một Thư Pháp bất luận hệ thống chữ viết đó là hệ nào. Hiểu như vậy sẽ dễ thông cảm với sự ngu muội của bản thân một người nào đó đang gồng mình lên hoang tưởng rằng trên đời này cái gì mình cũng biết.

Với các bài trả lời phỏng vấn của các ông Trần Trí Dõi Nguyễn Như Phong trên Vietimes người viết cũng đã có trao đổi bằng bài  "Phê bình văn hóa hay môi giới ngôn ngữ?" trong đó đặc biệt chỉ ra sự mù mờ của một vị Trưởng Khoa ngôn ngữ học trong việc ông có những cách hiểu như ông Ngô Minh đã nói ở trên và chỉ ra sự "vô văn hóa" - đối nghịch với các khái niệm văn hóa vừa dẫn trong những phát ngôn của ông Nguyễn Như Phong.

3. Phát biểu cảm tính mang tính dây chuyền.


tinh_yeu_1234.jpg
        Thư pháp chữ Việt
Cũng dễ thông cảm nhưng không dễ tha thứ cho những hành động coi thường người đọc của các vị nêu trên. Các vị có thể nói mình thích hay không thích thư pháp chữ Việt vì điều đó thuộc quyền của các vị. Nhưng khi các vị đưa ra một vấn đề mang tính học thuật thì cũng mong là các vị sẽ dùng dẫn chứng lý luận với những căn cứ khoa học có tính thuyết phục. Chứ đừng nói theo lối văng mạng chỉ trỏ lên giọng quy chụp hách dịch. Một vị giáo sư chân chính như ông Nguyễn Tài Cẩn trong một dịp cộng tác với các nhà nghiên cứu nước ngoài về lịch sử Việt Nam còn cẩn trọng giở lại và đọc toàn bộ tư liệu đã in thành sách ở Việt Nam từ sau 1975 vì nghi ngờ rằng nó không trung thực. Trong khi các vị tôi xin phép được nói thật lòng không biết sở học của các vị đến đâu và sự hiểu biết về lĩnh vực thư pháp chữ Hán chữ Việt đến đâu mà luôn miệng bung ra những nhận định như đinh đóng cột. Phải chăng đó là một sự hồ đồ và nóng vội không đem lại giá trị thông tin và kiến thức cho người đọc mà còn bị “gậy ông đập lưng ông” bởi sự a dua hùa theo dư luận quàng quấy miệng môi mà chẳng hiểu được mình đang chứng minh cái mình không hiểu. Ngay như một tờ báo điện tử Vietimes có sẵn uy tín cũng như số lượng độc giả từ trang mẹ là Vietnamnet mà còn coi thường công luận bằng việc giấu nhẹm đi những ý kiến phản hồi của cộng đồng và giở thói chợ trời trong việc đưa bài. Thì những ý kiến những phát ngôn a dua trên đó phỏng có được tính tin cậy? Thế mà những người có học và có lương tri vẫn bị đánh lừa và bị cuốn vào cái vòng a dua sắp đặt ấy.

4. Và lon ton xách dép chạy theo lịch sử.

Chưa nói đến thư pháp ngay như trong khái niệm về văn chương (thơ văn xuôi…) cũng đã có sự xê dịch về mặt khái niệm một cách rộng khắp toàn cầu. Các giá trị của văn chương cũng đã hoán đổi vị trí trong việc tác động lên khách thể tiếp nhận nó một cách sâu sắc. Điển hình là sự ra đời và phát triển của các trào lưu văn học các cú hích của hệ thống lý thuyết văn học mới đã thay đổi diện mạo văn chương nhân loại. Còn thư pháp cách đây hàng nửa thế kỷ người Nhật đã “lỏng then tạo hóa” mà cho ra đời Thư pháp Tiền vệ đến những năm 80 của thế kỷ 20 nó lại được du nhập trở lại với đất nước Trung Hoa rồi mới đây nó tràn xuống Việt Nam làm nên cuộc triển lãm “Chữ” tại Hà Nội. Đó chính là sự vận động tất yếu. Trong sự vận động tất yếu ấy nó tạo điều kiện trổ nhánh đơm hoa cho các hệ thống chữ viết có chung khái niệm Thư Pháp và đó chính là Thư pháp chữ Việt. Cái này ra đời rất muôn chưa trang bị được đầy đủ hệ thống lý luận cơ bản chưa ổn định và thống nhất về các quy tắc bố cục chương pháp…nên tạo điều kiện cho những người không hiểu biết có cơ hội chống phá. Đó cũng là tất yếu.
24_11_27_56_15.jpg

       Thư pháp Tiền Vệ

           ở Việt Nam


Để kết lại bài này xin được nhắc đến một chi tiết mà tác giả của một bài báo sử dụng để chống lại cái gọi là Thư pháp chữ Việt tác giả đó kể về chuyện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang thăm Pháp được tổng thống Pháp tặng quà trên gói quà có ghi một dòng chữ rất đẹp và ông ta gọi đó là nghệ thuật viết chữ đẹp. Nhưng ông lại không nhắc đến một chi tiết mà cũng trong khuôn khổ chuyến thăm ấy các phóng viên của Đài truyền hình Việt Nam có dịp ghi hình được một trang trại nuôi bò sữ của Pháp với chỉ hai nông dân nuôi hàng mấy trăm con bò sữa với vốn đầu tư là bốn trăm nghìn Euro. Nếu mà so sánh với anh nông dân Việt Nam thì không khập khiểng mới là lạ. Vậy thì việc các vị trên kia đi làm cái việc so sánh thư pháp chữ Việt với thư pháp chữ Hán có khác gì so sánh nông dân Việt Nam với nông dân Pháp. Như thế nó đều không có cái ‘trục” nào để mà so sánh cả.
 
Trịnh Tuấn 

 

Nguồn: http://www.thuphapchuviet.com/content/view/345/59/ 

More...